BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

VIDEO BÀI HỌC VUI - BỘ SÁCH CÁNH DIỀU

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg Thumbnail_Ca_chua.png TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg ClipartKey_135275.png ClipartKey_191402.png

    TỦ SÁCH HIỆU ỨNG LẬT SÁCH - LICK VÀO NÚT NEX - LỰC CHỌN SÁCH - ẤN TIẾP VÀO SÁCH ĐỂ ĐỌC ONLINK

    VỠ ĐÊ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
    Ngày gửi: 17h:08' 15-03-2025
    Dung lượng: 806.5 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Chương 1:
    Chương 3:
    Chương 3:
    Chương 4:
    Chương 5:
    Chương 6:
    Chương 7:
    Chương 8:
    Chương 9:
    Chương 10:
    Chương 11:
    Chương 12:
    Chương 13:
    Chương 14:
    Chương 15:
    Chương 16:
    Chương 17:
    Chương 18:
    Chương 19:
    Chương 20:
    Chương 21:
    Chương 22:
    Chương 23:
    Chương 24:
    Chương 25:
    Chương 1: Con Thơ Lìa Mẹ

    VỠ ĐÊ
    Vũ Trọng Phụng
    dtv-ebook.com
    Chương 1:
    Phú uống vội bát nước vối nóng, cầm cái tăm bỏ miệng, rồi xách cái ghế
    mây ra sân, để chỗ dưới gốc lựu. Chàng đứng tần ngần như lãng quên một
    điều gì mà chưa nhớ ngay ra được, rồi lại đi vào nhà cầm một tờ nhật báo
    ra. Chàng ngồi xuống ghế, chân bắt chữ ngũ, cổ ngửa trên thành ghế, rộng
    mở tờ báo... Cái tin một ủy ban đã làm việc suốt ngày đêm để có thể kịp gửi
    những hồ sơ của chính trị phạm về cho quan Tổng trưởng thuộc địa khiến
    Phú sung sướng mỉm cười một mình, cái tăm rơi xuống đất mà không biết.
    Chàng ngồi ngay ngắn lên, nhìn vào bếp gọi:
    -Đẻ ơi đẻ! Sướng quá, đẻ ạ!
    Bà Cử lúc ấy đương ngồi đun xanh cám lợn, thấy con gọi thì ngơ ngác
    quay ra đáp bằng một giọng hơi gắt:
    - Cái gì thế?
    Giọng chua chát của mẹ làm cho Phú hơi cụt hứng và hơi giận mẹ.
    Nhưng chợt nghĩ đến cảnh bần hàn bảy năm nay nó làm cho mẹ chàng hóa
    cấm cảu, khó chịu thì Phú lại động lòng thương. Chàng chạy xuống bếp,
    nói:
    -Đẻ ạ, con chắc anh con sắp được tha!
    Bà Cử ngơ ngác, trước thì còn hoài nghi, mà sau thì không tin nữa. Bà
    lại quay mặt nhìn vào xanh cám, hời hợt đáp:

    -Mày chỉ được cái chuyện nhảm.
    Phú vẫn cười, cố làm cho mẹ tin:
    -Báo đăng rồi đấy mà! Hiện quan trên đương xét hồ sơ những người
    cách mệnh, để bên ấy xét rồi tha cho. Bây giờ ở bên Tây có sự thay đổi,
    đảng Xã hội và đảng Cộng sản...
    Phú nói đến đấy thì bà mẹ cắt đứt:
    - Thôi tao không chuyện rườm!
    Bực mình, Phú lại ra ngồi ghế mây ngoài sân. Chàng không biết tìm
    cách nào làm cho mẹ chàng hiểu nổi. Rồi chàng thấy rằng một người đã
    chịu đau khổ như mẹ chàng đến nỗi không còn tin gì nữa, không còn dám
    hy vọng gì nữa, thì cũng không lạ gì. Phú ngẫu nhiên ôn lại quãng đời xưa...
    Từ khi Phú còn nhỏ lắm, phụ thân của chàng, ông Cử, đã bị bắt và bị đày đi
    Côn Đảo. Từ đấy, mẹ chàng vẫn can đảm sống bằng nghề quay tơ mà nuôi
    nổi ba con:
    Minh, anh Phú, Tuất, chị Phú và Phú. Rồi anh Minh được bổ đi dạy học,
    rồi chị Tuất đi lấy chồng, rồi Phú vào trường trung học. Cuộc đời đã tưởng
    tốt đẹp. Công khó nhọc của bà Cử tưởng đã được đền bù... nào ngờ chưa
    được hai năm nhàn hạ thì Minh bị bắt, vào năm 1930 là năm Việt Nam
    Quốc dân đảng vỡ lở. Năm sau nữa Tuất góa chồng, quay về ở với mẹ với
    một đứa con thơ... Phú học đến năm thứ ba trường trung học thì cảnh túng
    thiếu khiến chàng phải bỏ đèn sách. Bà Cử cứ mỗi ngày một nhiều nợ thêm
    lên, già đi, hóa ra khó chịu thêm...
    Phú không kiếm được việc làm, không biết học nghề gì cả, đành về quê
    nhà đóng cái vai trí thức thất nghiệp trong hương thôn. Bà Cử từ đấy tuyệt
    vọng, lấy sống làm vui, cả đến sự no ấm cũng không dám ao ước nữa. Một
    phiên tòa Đề hình đã kết án giáo Minh 15 năm tội đồ. Bà Cử không dám hy
    vọng đến cái thời xa lắc xa lơ kia mà coi con mình như đã chết hoặc trước

    khi con mãn hạn tù, thì bà cũng đã chết. Ngày nay... Thốt nhiên Phú kêu
    anh mình sắp được tha! Như vậy kể cũng khó tin thật. Phú chỉ còn cách cắt
    nghĩa cho kỹ nhưng không bao giờ bà Cử lại chịu để cho Phú cắt nghĩa.
    Mỗi khi nghe thấy Phú nói đến: “Đảng cộng sản bên Pháp” thì bà Cử lại
    giật nẩy mình lên đánh thót một cái và không cho Phú được nói tiếp. Bà sợ
    con bà sẽ bị vạ miệng. Bà cho con bà sắp hóa dại, hoặc nói chuyện làm quà.
    Nghĩ thế, Phú tức lắm. Phú lại muốn vào bếp nói kỹ càng cho mẹ hiểu,
    để mẹ có hy vọng, để mẹ đỡ khổ, để mẹ được một chút vui mừng. Nhưng
    chợt một tư tưởng thoáng qua làm cho Phú vừa đứng lên lại ngồi xuống
    ghế. Liệu Minh có được tha về nay mai không hay là người ta sẽ giảm hạn
    tù từ 15 năm xuống độ 10 năm mà thôi? Nếu vậy, có nên nói với mẹ không?
    Phú sợ ngộ cái ảo tưởng của Phú sẽ làm cho Phú nói rõ thì mẹ chàng sẽ vì
    đó mà lại càng buồn bã hơn xưa. Chàng nghĩ thầm: “âu là chờ bao giờ có
    đích xác vậy”.
    Gió hây hây thổi, đã có cái vẻ heo may. Nắng chiều rọi qua rặng tre ở
    góc sân in lên vách nhà hình bóng một cành tre đẹp như trong những tranh
    thủy mạc Tầu, lại còn rung rinh hoạt động nữa. Những mẩu lá tre úa rụng lả
    tả xuống sân, trước khi rơi xuống đất cứ quay tít theo chiều một chiếc ngư
    lôi vừa bị bắn ra khỏi miệng súng. Một cành lựu bị gió đẩy thỉnh thoảng lại
    chạm vào tai Phú, tinh quái như một người nhân tình. Phú nhìn lên trời,
    nhìn những đám mây thiên hình vạn trạng, nhìn kỹ cả những hình tròn tròn
    hiện trên da trời - phản ảnh của con người mà tầm mục quan chỉ đến được
    đấy thì hắt trở lại. Một cái diều vo vo những tiếng sáo như bị treo lưng
    chừng mây, trông như một vầng trăng đen, khiến Phú ngẫu nhiên có những
    cảm tưởng man mác buồn. Chàng bỗng tủi cho thân thế.
    Phú đã 24 tuổi đầu mà còn cứ phải ăn hại mẹ, mà người mẹ khốn khổ,
    nghèo xơ nghèo xác! Chàng có một khối óc sáng suốt để suy nghĩ mà
    không biết để suy nghĩ vào việc gì cả. Chàng có hai cánh tay khỏe mạnh sẵn
    sàng làm việc mà xã hội không thèm mượn đến, không cắt cho một việc gì

    cả. Sự mầu nhiệm của tạo hóa, sự mang nặng đẻ đau của bà Cử, bao nhiêu
    công ăn học của Phú, ngần ấy cái chỉ kết quả nên Phú là một người thừa...
    Phú thấy rằng cái xã hội như vậy phải cải cách, không thể để thế được nữa.
    Cải cách? Chỉ còn có một đường là: không sợ chết, như những người đã há
    sinh cả tính mệnh lẫn con khôn vợ đẹp. Há sinh thì cũng không thể biết
    trước kết quả sẽ thế nào, song đã muốn thì phải há sinh... Khốn nỗi Minh đã
    há sinh mất rồi, đã để lại một cảnh gia đình tiều tụy, để lại một mẹ già chỉ
    còn có trông cậy ở Phú. Chàng thấy nếu không liều thì chỉ là người hèn
    nhát, mà liều thì sẽ phạm tội đại bất hiếu với mẹ - thật là tiến thoái lưỡng
    nan...
    Phú đã sống những ngày buồn bực, cực khổ. Nhưng nay, thời cục đã làm
    cho Phú được phép lạc quan. Cũng như những người trí thức hiểu đời, Phú
    rất hy vọng vào Chính phủ Bình Dân Pháp. Xưa kia Phú không bao giờ dám
    hy vọng đến cái hy vọng ấy, nên chi khi thấy nay hy vọng kia đã hiện ra sự
    thực, thì Phú cũng vẫn phải hơi lo sợ, hơi nghi ngờ, mặc lòng rằng không
    dám tin vững thì chàng khổ sở lắm, và chàng không muốn phải nghi hoặc
    một phút bao giờ. Hằng ngày, những tin tức của Chính phủ Bình Dân bên
    Pháp càng làm cho Phú chứa chan hy vọng. Chàng cảm thấy rằng cái “sự
    không hiểu nhau” của hai dân tộc thế là không còn có nữa
    - Người bị chinh phục đã có thể coi kẻ đến chinh phục như ân nhân của
    mình nếu mình không muốn bị một kẻ thù khác nữa, nếu mình không muốn
    bị diệt chủng hoặc bị tái nô. Cái việc có một không hai trong lịch sử nước
    Pháp là cuộc toàn thắng của thuyền thợ và nông dân, làm cho Phú được dịp
    nhận thấy rằng cái quan niệm quốc gia của chàng là hẹp hòi, là sai lầm, và
    có tội nặng nữa. Một nước Việt Nam độc lập trong đó có một ông vua độc
    lập hay một ông tổng thống Việt Nam, mà tựu trung vẫn không chắc giữ
    vững được bờ cõi, hoặc là vẫn để cho dân quê ngu dốt, đói khát lầm than thì
    quả nhiên không khi nào bằng một nước Việt Nam hộ thuộc của một nước
    Pháp trọng công lý hơn, của một nước Pháp nhân đạo hơn. Một con gà mái
    vừa cục cục vừa dắt díu mười hai con gà con đến chỗ trước mặt Phú làm

    cho sự mơ màng của chàng phải gián đoạn. Phú nhìn những con gà con mới
    nở xinh xinh, mỗi con trông như một cuộn nhung vàng ấy, mà thích chí quá,
    chỉ những muốn bắt để kề vào miệng, hôn... Chàng tự cười mình vì đã đi
    mượn mấy cuốn sách dạy nuôi gà, hy vọng giúp đỡ mẹ bằng cách nuôi gà
    theo phương pháp mới. Chàng lại nghĩ đến cái vườn rau một sào do chính
    tay chàng trông nom tưới bón theo những phương pháp khoa học, cũng do
    cái kiêu ngạo muốn giúp mẹ mà bày ra hai tháng rưỡi rồi kết quả vẫn chẳng
    thấy đâu vào đâu... Phú nghĩ thầm:
    “Nay mai ta sẽ được gánh vác những bổn phận nặng nề hơn, ta sẽ được
    góp sức vào làm những công việc vĩ đại hơn”. Phú nghĩ thế là vì cái hy
    vọng nếu ông toàn quyền mới mà sang nhậm chức thì nước nhà sẽ được
    hưởng những sự cải cách lớn, Phú sẽ góp sức vào cuộc nâng cao trình độ tri
    thức và nhân sinh của dân quê, đạp đổ những hủ tục, giáo hóa cho nông dân
    có quan niệm về chính trị, truyền bá khoa học cho lan rộng, tổ chức những
    chính đảng, những nghiệp đoàn... Phú nghĩ thế rồi lại phải thôi, e mình mơ
    mộng nhiều quá. Cô Tuất về, với đống quần áo và đứa bé con trần truồng
    đeo sau lưng, Phú hỏi:
    - Chị đã tắm cho cháu rồi? Bé ơi, ra đây với cậu.
    Cô Tuất vừa đi vào nhà vừa nói:
    - Ấy ông thủ ông ấy nhắn rằng cậu đọc báo xong chưa thì cho ông ấy
    mượn đấy.
    -Đã xong đâu, tôi vừa mượn được có một lát.
    Phú lại tìm tòi trong trang báo và nét mặt lộ đầy những vẻ sung sướng
    khi thấy bài phỏng vấn quan tổng trưởng Moutet của bà André Viollia.
    Chàng miệt mài như người ta đọc thư của nhân tình. Bỗng ngoài ngõ có
    tiếng hỏi:
    -Bác Phú ơi, nhật trình có gì lạ không?

    Phú vẫn cúi xuống tờ báo mà đáp:
    - Ông vào chơi! Thú vị lắm ông ạ, quan toàn quyền và quan thống sứ
    cũng định xin đại xá cho hết thảy chính trị phạm. Thật là một tin mừng
    không ai ngờ.
    Ông thủ quỹ, một người đứng tuổi, vẻ mặt tỏ ra là chỉ có nho học, tất
    tưởi bước nhanh vào, hỏi dồn:
    -Đâu? Đâu?
    Phú giơ tờ báo ra, nói:
    -Đây này!
    Ông thủ đọc ba phút rồi ngơ ngác như bị mất cắp:
    -Lạ nhỉ! Tôi không ngờ đấy!
    Phú đứng lên nhường ghế, nói một cách kiêu ngạo:
    - Tôi vẫn bảo ông cứ nên tin vững ở nội các Bình Dân kia mà.
    - À, đây là ảnh quan tổng trưởng mới!
    -Phải, từ khi đảng Xã hội còn kém thế, quan tổng trưởng lúc ấy chỉ mới
    là một ông nghị, cũng đã nhiều lần lên diễn đàn cãi cho Đông Dương.
    Chúng ta có hy vọng nhiều lắm.
    -Bác đã thưa chuyện cho cụ Cử nhà rõ tin rằng...
    - Chưa, để đích xác hơn đã. Tôi sợ anh tôi không được về hẳn, hoặc là
    chỉ được giảm hạn thì đẻ tôi lại buồn thêm. Ông thủ châu đầu xuống tờ báo,
    chăm chú đọc, Phú vào nhà lấy thêm cái ghế mây nữa ra sân. Giữa lúc ấy,
    ngoài ngõ có tiếng người:

    - Thủ quỹ trong này đây phỏng?
    - À, kìa ông lý! Ông lên quan về có việc gì lạ đấy không?
    Ông lý vào, lắc đầu, thất vọng:
    - Nguy lắm! Nước lên to lắm. Quan sở tại đòi riêng làng nhà phải có ít
    ra là năm chục phu đi tạp dịch.
    Ông thủ nói:
    - Năm chục thì đào đâu ra? Làng ta còn bao nhiêu bạch đinh? Chả nhẽ
    có chân tư vấn cũng phải đi hộ đê.
    Ông lý cau có:
    - Thế mới rầy rà! Lại còn bao nhiêu người vắng mặt là khác! Quan bảo
    đứa nào đi vắng thì đã có vợ con chúng nó thay! Cậu Phú ạ, việc quan tôi
    cứ phép công tôi làm, âu là ai không có chân tư văn tôi bắt đi ráo cả một
    lượt vậy.
    Phú cười khanh khách:
    - Thôi thế thì tôi phải đi rồi!
    - Chứ gì! Tôi chẳng nể ai cả, vì nếu thiên tư thì không xong.

    VỠ ĐÊ
    Vũ Trọng Phụng
    dtv-ebook.com
    Chương 3:
    Bình tĩnh và khoan hòa trên một ngọn xoan, mặt giăng soi sáng cái sân
    có sáu người, đem vào cho tâm hồn của sáu người sự vui vẻ, sự minh mẫn.
    Ngồi nép vào ria chiếu, sau Phú, cô Tuất bóc những củ lạc luộc rồi thỉnh
    thoảng với tay lại sau lưng... Thằng cu Hiền đứng ôm lấy mẹ, há mồm đớp
    một cách vụng dại đáng yêu, mỗi khi đớp lại để chảy một sợi nước rãi vào
    cổ mẹ, và một khi được nhân lạc lại ôm chặt lấy cổ mẹ, run rẩy hai cái chân
    mũm mĩm dài bằng gang tay, miệng kêu “Ông! Ông! Ông!...” để bắt chước
    một ông lý cưỡi ngựa. Trước mặt Phú là ông thủ quỹ, bác hộ lại, và anh hai
    Cò - một giai làng, một kẻ vô nghĩa lý mà chỗ nào người ta cũng thấy có
    mặt, mà có mặt ở chỗ nào thì người ta cũng chẳng biết là có mặt hay vắng
    mặt, một kẻ không được yêu, chẳng bị ghét, cả đến bị khinh bỉ nữa cũng
    không, một thứ người đần độn mà ở nhà nào có việc thì người ta cũng thấy
    ngồi thái thịt dưới bếp. Ông thủ quỹ hỏi Phú về chuyện thế giới. Bác hộ lại
    kể những chuyện quan trên ở phủ này sức cho dân phải uống rượu ra làm
    sao, ở huyện kia một con lợn bao nhiêu chai, một con bò bao nhiêu chai...
    Người ta phàn nàn cho ông lý đã lỗ mất hai trăm bạc vào vụ thuế tháng
    năm vừa rồi mà bây giờ lại bị giày vò bởi cái vấn đề đê điều có lắm chuyện
    rắc rối. Cả hai người đều cùng một giọng than phiền về nạn khủng hoảng
    kinh tế, về những sự đau khổ của dân quê, cho nên khi thấy Phú cắt nghĩa
    cho nghe cái hy vọng ông toàn quyền mới sang nhận chức sẽ có nhiều điều
    cải cách hay, thì ai cũng phải tạm dẹp bớt những nỗi bất bình. Tuy nhiên
    bác hộ lại vẫn ra vẻ hoài nghi mà rằng:

    -Bác Phú nói thế thì tôi cũng đành phải tin như thế. Đã bao nhiêu lần tôi
    thấy nói ông toàn quyền này sang với ông toàn quyền kia sang! Mỗi lần
    thay đổi một vị thủ hiến thì thấy ai cũng nói sẽ có sự thay đổi chính sách, sẽ
    có sự cải cách chế độ, dân gian lại hy vọng... Rồi thì đâu lại hoàn đấy cả.
    Ông thủ quỹ họa theo:
    - Ừ, mà quả thế đấy! Ừ nhỉ! Chính tôi đây chứ phải ai? Tôi đã bao nhiêu
    phen thất vọng rồi, vậy mà tôi cũng vẫn cứ còn sức hy vọng mãi, như trăm
    nghìn kẻ khác đấy. Họ dứ mình y như là dứ trẻ con, mà mình thì lần nào
    mình cũng tin y như trẻ con!
    Trước những luận điệu như thế, Phú cũng thấy sự tín ngưỡng của mình
    có bề lung lay, không dám cam đoan nữa. Chàng bình tĩnh nói:
    -Phải tin chứ! Phải tin mới sống được chứ!
    Bác hộ lại nói một cách hằn học:
    - Những kẻ không tin thì đã đi Côn Đảo cả mất rồi còn gì!
    Ông thủ quỹ nói:
    - Ừ, mà người ta ai chả thế? Ai chả sống, vì hy vọng?
    Phú cố hòa giải:
    -Không, lần này thì tôi tưởng chúng ta không đến nỗi mơ ước hão đâu.
    Xưa kia cũng đã có nhiều cuộc cải cách đấy, song chưa đến cùng dân được
    là vì...
    -Bao nhiêu lần cải cách rồi mà dân quê vẫn chết đói một cách thỏa mãn
    lắm!

    -Là vì xưa kia, bên Tây, quyền chính chưa vào tay phái Bình Dân. Xưa
    kia bọn tư bản chủ trương mọi việc, tất nhiên thuộc địa đối với họ chỉ là chỗ
    để lấy lợi, mà đã thế, tất nhiên dân mình phải khổ. Bây giờ đảng Xã hội lên
    cầm quyền thì phải khác, vì chủ nghĩa xã hội có tính cách đại đồng, chủ
    trương hòa bình, không phân biệt màu da. Trong chương trình của đảng Xã
    hội có khoản giải phóng thuộc địa, cho những dân hậu tiến được hưởng
    công lý và tự do để có thể cho tất cả các thuộc địa cùng với mẫu quốc hợp
    lại thành một khối bất khả lá tán, cùng một mối đồng tâm ghê gớm... Có
    được như vậy thì nước Pháp mới giữ mãi được cái địa vị cao trọng trong thế
    giới. Bằng không thì...
    Ông thủ quỹ nói luôn:
    -Bằng không thì ắt là có phen mất!
    Ông hộ lại bàn:
    - Cái đó có thể lắm. Vì nước Pháp được tiếng là có nhiều thuộc địa béo
    bở cho nên những cường quốc khác lăm le thèm muốn đã rõ rệt lắm. Nếu
    không giữ được lòng trung thành của dân tộc thuộc địa thì lấy gì mà chống
    lại với những sự ham muốn của các cường quốc kia? Một cuộc binh đao,
    một cuộc xâm chiếm... ai biết trước được sự thắng bại thế nào!
    - Ừ! Ừ... Mà hiện giờ thì nước Nhật...
    - Ờ! Mà nếu vậy thì ra đảng Xã hội mà có giải phóng cho thuộc địa thì
    cũng là điều cần chứ chưa chắc đã phải là vì lòng nhân đạo muốn cho hậu
    tiến mau bước trên đường văn minh!
    Tóm lấy những lời lẽ ấy, Phú vội kết luận:
    - Ấy chính vì những lẽ ấy cho nên tôi mới dám hy vọng vào ông toàn
    quyền mới đấy mà! Ông này cũng có chân trong đảng Xã hội như ông
    Varenne năm xưa. Đảng Xã hội cho các lối áp chế thuộc địa của phái tư bản

    là thất sách, là có hại cho nước Pháp, vì những chính sách hà khắc sẽ dắt
    đến sự công phẫn và sự mất thuộc địa, nên họ muốn cho thuộc địa càng
    được hưởng nhiều sự cải cách thì dân đen, dân vàng càng yêu họ hơn, càng
    trung thành với nước Pháp hơn...
    Ông thủ quỹ, bác hộ lại gật gù ra vẻ bằng lòng. Hai người đã được yên
    tâm về chỗ: nên hy vọng. Riêng Phú, chàng thấy rất đáng tự kiêu ở việc
    chàng bao lâu nay vẫn cứ ngấm ngầm mà giáo hóa được bọn dàn anh trong
    làng, làm cho họ có một quan niệm về quốc gia, có những tư tưởng xã hội
    và biết rõ cái guồng máy chính trị của xứ sở. Chàng nghĩ thầm:
    “Nếu người dân quê nào cũng biết sự đời được như ông thủ quỹ và bác
    hộ lại này thì tương lai nước nhà trông chừng cũng khả quan”.
    Sở dĩ có ý nghĩ ấy là vì mấy năm trước đây khi chàng mới về quê ở với
    mẹ, thì trình độ trí thức của mấy ông đàn anh trong làng thật là thảm hại.
    Trong cả một làng chỉ có độ hai chục người biết chữ, cả quốc ngữ lẫn chữ
    nho, trong số ấy không có một người nào đọc mà lại hiểu nổi một tờ nhật
    trình hàng ngày, cả làng chỉ có một người mua năm một tờ báo. Người ta
    tranh nhau đọc báo nhưng mà đọc cái gì? Trước nhất là đọc những tiểu
    thuyết hoang đường quái kiệt. Rồi đến những tin vặt, nạn xe cộ, trộm cướp,
    những vụ hiếp dâm. Không bao giờ họ hiểu thế giới là gì cả. Những chữ
    như: hội Quốc Liên, chính phủ Xô Viết, đảng Xã hội, Nhật đế quốc, phát
    xít, Hitler, Cộng Hòa v.v... đối với họ đều là những danh từ không có nghĩa.
    Cho nên gặp những khi thấy nhật trình đăng những tin đại khái như: Tưởng
    Giới Thạch đi tiễu trừ cộng sản... Thủ tướng Herriot chủ trương thuyết thân
    thiện với nước Nga... vụ cờ đỏ ở Cao Bằng, 30 người bị bắt... Nga-Pháp đã
    ký hiệp ước đồng minh v.v... thì họ ngạc nhiên, thì họ hãi hùng, thì họ kinh
    hoảng... Không ai cắt nghĩa cho họ hiểu cả. Ngạc nhiên, hãi hùng, kinh
    hoảng mãi cũng vô bổ, dần dần họ không thèm để ý đến những tin tức như
    đã kể trên. Vị lẽ ngoài những điều ấy, nhật báo cũng vẫn có những truyện
    lợn đẻ ra voi, rắn đẻ ra gà, nên chi họ vẫn tranh nhau đọc báo. Cái chính

    sách ngu dân đã đắc thắng một cách hoàn toàn. Bây giờ, sự vật đã thay đổi
    hẳn. Nhờ có Phú, ông thủ quỹ đã biết sung sướng khi đọc thấy những dòng:
    Đảng Cấp tiến, đảng Xã hội, đảng Cộng sản ở Pháp đã hợp nhất để lập một
    chiến tuyến Bình dân. Ông lý trưởng đã lo con giai cả của ông sẽ phải gọi ra
    lính khi thấy trên báo có tin: Nước Đức đem quân vào phi chiến khu... Bác
    hộ lại đã bất bình vô cùng khi thấy đăng: Nhật và Nga đã ký hiệp ước bất
    xâm phạm, vì cái chủ trương của bác ta chỉ là thế giới chiến tranh cho hết
    khủng hoảng kinh tế. Người ta bắt đầu ham đọc những bài xã thuyết chính
    trị, kinh tế can hệ cho nước nhà, hoặc việc của nước ngoài. Người ta bắt đầu
    khinh bỉ những chuyện hoang đường, những chuyện quái đản, những tin
    chó chết, mục “Xuân thủ đàm ân”...
    Người ta đã hơi hiểu những sự gì can hệ, những sự gì phù phiếm. Sở dĩ
    có sự tiến bộ ấy là chỉ bởi một mình Phú nên Phú lấy chỗ ấy làm tự hào
    lắm, và cũng được đền bù lại vì cả làng đều coi Phú là một bậc trí thức. Mối
    hoài bão gửi vào ông toàn quyền mới khiến ba người ngừng chuyện, mơ
    màng ngửa cổ nhìn lên cung trăng. Trên không ngẫu nhiên có một đám mây
    có hình một cái đầu rồng đương vờn mặt trăng là một viên ngọc. Thằng cu
    Hiền kêu “Ông, ông, ông”càng to hơn trước, hình như con ngựa tưởng
    tượng của nó đương phóng nước đại. Cô Tuất khoan thai vấn lại mớ tóc rối
    loạn trên đầu. Trong nhà, cụ Cử vẫn ngồi làm vàng, thoăn thoắt không
    ngừng tay. Phú tưởng đến sự vui của gia đình, nếu nay mai Minh được tha
    hẳn. Chợt có tiếng giày kêu ngoài ngõ. Mấy người nhìn ra... Ông chánh
    Mận đi vào...
    - Chào các quan! Bác Phú hẳn chưa đi ngủ! à, họp đây mà!
    - Chào ông chánh! Ông ngồi chơi đây! Ngắm trăng suông tuy vậy cũng
    có một cái thú...
    Cả bọn dọn chỗ cho ông chánh ngồi. Anh hai Cò bỏ hẳn chiếu, kều được
    cái mo cau sau lưng thì lổm ngổm lùi về đằng sau rồi ngồi lên. Cô Tuất
    chào qua khách một câu rồi ẵm con vào buồng với bà cụ Cử. Phú rót một

    chén nước, đẩy cái điếu về phía ông chánh Mận. Ông này nhìn vào nhà, cất
    cao giọng:
    -Lạy cụ ạ! Cụ chưa đi nghỉ...
    Không ngừng tay cuốn những thoi vàng, cụ Cử thản nhiên nói với ra:
    -Không dám, chào ông, ông sang chơi. Thế rồi bốn bề lặng im. Sự ông
    chánh Mận có mặt tại đó làm cho mấy người cụt hứng. Là vì ông chánh là
    người giàu nhất làng. Ông đã mãn khóa rồi, nhưng ở xã hội ta, mỗi khi ai có
    được một chức gì thì sẽ giữ chức ấy được mãi cho đến lúc chết, cũng như
    những ông quan vì hối lộ mà mất quan, mà phải tù, thì cũng vẫn được gọi
    và vẫn cứ nhận mãi mãi là quan. Tính nết ông này thật khó hiểu. Độc ác
    không ra độc ác, hiền lành không ra hiền lành. Lắm lúc hoang ra phết, lắm
    lúc lại bẩn thỉu đáo để. Có khi sính làm quan, có khi rộng miệng cả tiếng
    mạt sát những kẻ thích quan. Phú không ghét ông chánh Mận vì cái vô học
    của ông, song vì ông ta giàu. Thế mà mấy tháng trước đây, chàng đã phải ở
    vào một cảnh ngộ khó xử. Chị Tuất đã hỏi Phú rằng “Ông Mận hỏi tôi làm
    vợ kế đấy thì cậu tính sao?”. Phú không dám có một ý kiến gì cả, sợ cái
    trách nhiệm về sau, bảo chị cứ nghĩ cho chín rồi liệu mà quyết định. Cụ Cử
    kêu con gái đến lúc đã rổ rế cạp lại thì cụ cũng chẳng nói gì vào đấy, cũng
    cho tùy lòng... Cụ chỉ kêu:
    “Chỉ bực nỗi người ta giàu có, khó nghĩ lắm”.
    Một đường thì thủ tiết nuôi con mà ăn hại mẹ, một đường thì trả lại đứa
    con cho gia đình nhà chồng rồi đi cải giá, sẽ làm mẹ đứa bé khác...
    Tuất thấy đường nào cũng đầy rẫy chông gai nên đã để mấy tháng lưỡng
    lự. Mà ông chánh thì cứ giục điên, nay tin đi mai tin về... Thoạt đầu Phú
    đâm ra ghét ngọt ông chánh. Nhưng khi nghĩ người ta giàu và hỏi chị mình,
    thế không đáng tội, thì chàng nguôi nguôi. Thấy rằng nếu vồ vập ông chánh

    Mận là vô ý thức, lúc ấy Phú hết sức lãnh đạm. Sau, thấy thái độ ấy có lẽ
    quá đáng, chàng lại phải hời hợt mà rằng:
    -Kìa nước đương nóng, ông xơi đi! Thuốc đây, điếu đây... Ông không có
    chuyện gì lạ đấy chứ?

    VỠ ĐÊ
    Vũ Trọng Phụng
    dtv-ebook.com
    Chương 3:
    Cái sân gạch bát tràng là vật sở hữu hoàn toàn của chín con gà con và
    con gà mẹ. Với những tiếng kêu cục cục vừa hiền từ vừa nghiêm nghị như
    những câu ra lệnh cho kẻ dưới, với hai cánh buông sã xuống như tà áo buộc
    thắt đáy của người đàn bà đảm đang lúc vội việc, con gà mẹ oai nghiêm đi
    tìm đường đời cho lũ con nhỏ ngây thơ, ríu rít, kêu chiêm chiếp theo sau.
    Bầu không khí mát mẻ dử một vài con châu chấu dại dột đã bỏ địa phận của
    chúng để từ nội cỏ tung tăng nhảy vào du lịch sân gạch. Ấy thế là... con gà
    mẹ nghển cao cổ, lóng lánh hai mắt, quay cổ vài ba lần để soi mắt tìm
    quanh như những cây hải đăng tự động, rồi thì, sau khi rú lên mấy tiếng
    ương ước đầy những vẻ khát máu và tàn sát, nó văng mình đuổi theo con
    bọ, nhanh nhẹn tựa hồ một khối bị ném đi... Đàn gà con còn ngẩn ngơ đứng
    xúm với nhau thành một tốp, mãi cho đến khi con châu chấu đã bị hành hạ
    dưới mỏ con gà mẹ thì cái đống nhung nhúc ấy cũng lại bị văng đi như một
    khối khác nữa, hàng ngũ đều đặn như một đạo binh đã được thao luyện
    chỉnh tề. Cuối cùng thì một vài con nghển cổ hai ba lần vì nghẹn mồi, và
    những con khác chiêm chiếp kêu đòi công lý chung quanh, con gà mẹ lúng
    túng không biết xử trí ra sao... Cây chuối in bóng vào cây rơm. Cây với
    bóng cao bằng nhau, vì mặt trời hình như mới mọc từ mặt đất. Một con
    chào mào bay đến để điểm thêm, bằng cái đuôi đỏ, một chấm đỏ nữa cho
    cây lựu. Nó kêu lên như muốn nói:
    “Thích tình nào!... Thích tình nào!...” vì cây lựu là của nó, cái sân là của
    nó, - bốn bề là của sự im lặng. Con gà mẹ chỉ lúng túng có một lát rồi lại
    nghển cổ đập cánh vài cái, y như bọn người quen lấy cái xoa tay khu xử
    những việc khó xử.

    Tức khắc sự khiếu nại của những con gà con không được gì thế là hóa ra
    sự quên. Mẹ dắt con đi chỗ khác bằng những lời hứa. Và những đứa con
    phải quên đi vì mối hy vọng mới, cho nên lại sống thuận hòa với nhau ngay.
    Phú đã dậy, còn ngồi ở bậu cửa ngắm nghía cái xã hội loài vật ấy. Chàng
    nghiệm rằng nó là phản ánh của xã hội loài người, nhất là xã hội Việt Nam.
    Sự nhẫn nhục, những hy vọng luôn luôn kế tiếp nhau, sự chóng quên, sự
    cầu hòa, tính thủ phận: đó là những điều kiện gây nên hòa bình sau những
    khi có những sự bất công đáng bất bình. Chàng thấy phải hay công phẫn,
    hay phản đối, phải hiếu động như người Pháp thì mới nâng được quốc gia
    lên cái trình độ tiến bộ.
    - Cậu Phú đã dậy chưa? Cậu Phú ơi cậu Phú?...
    Tiếng gọi réo của ông lý trưởng làm tan hoang mất cả cái thú vị của buổi
    sáng. Con chim chào mào bay vụt đi. Đàn gà hãi hùng rủ nhau chạy trốn.
    Phú mất trầm mặc, vùng lên, ra đẩy cái cổng tre đón ông lý vào nhà. Đằng
    sau ông lý, bảy tám người lạ mặt trông có vẻ lực điền cả mà không vào theo
    ông lý, khiến Phú nhớ ra ngay cái việc trông đê. Tuy nhiên chàng cũng cứ
    hỏi:
    - Có việc gì mà ông sang sớm thế?
    Ông lý đứng dừng lại vì ngạc nhiên. Ông quay lại đưa mắt cho Phú để ý
    đến những người đứng chờ ở ngoài hàng rào. Rồi ông hỏi:
    - Thằng cháu tôi nó không bảo gì cậu? Phú cười, vỗ lưng ông lý, nói:
    - Ông hãy cứ vào trong này đã...
    - Tôi vội lắm đấy. Còn phải đưa bọn phu này đi ngay cho kịp sáng hôm
    nay... Phú cuốn chiếc mành lên, giải chiếc chiếu ra phản, đi kiếm điếu thuốc
    lào, ấm chén. Lúc ấy, cụ Cử cũng đã bị cái giọng gọi réo của ông lý đánh
    thức dậy rồi. Cụ còn ngồi lại ở giường vấn lại vành khăn.

    - Tất cả làng có hơn một trăm đinh thì hơn một chục ông có chân tư văn,
    năm bảy người đi làm xa! Đào ngoáy xoay xỏa mãi cũng chưa được ba
    chục. Thật rõ lôi thôi quá... Tôi mà biết trước những nông nỗi thế này thì tôi
    không ra hứng lấy việc quan, việc dân... Rõ bực!
    - Thế những người lạ mặt vừa rồi?
    -Phu đấu làng bên cạnh đấy. Họ ở Hải Dương lên từ tháng trước đắp nền
    nhà mới cho cụ án. Họ vừa nghỉ việc mấy hôm nay. Cũng may có họ,
    không, chả mượn người đâu được.
    - À, ra những ai không đi thì thuê họ.
    -Phải. Mỗi lượt, một đồng một người; năm ngày một lượt; hết lớp ấy tôi
    lại phải bắt lớp khác.
    - Thế không đủ đinh thì ông làm thế nào?
    - Tôi hãy cứ đem ba chục phu lên đã. Quan có quở thì tôi hãy cứ khai
    bướng là tư văn không đi. Rồi có sao sẽ liệu vậy. Thế còn phần cậu thì cậu
    định liệu thế nào?
    - Tôi ấy à?
    - Thằng cháu nó có bảo gì cậu không?
    - Có. Nhưng mà tôi không có tiền...
    - Chết! Cậu phải đi xoay chứ? Cậu phải cố cào cấu cho nó ra tiền chứ?
    Đi vay mượn chứ!
    - Ông bảo vay thì vay ai? Một đồng bạc bây giờ bằng chục bạc lúc
    khác...
    - Ông chánh Mận ấy!

    - Chưa bao giờ tôi nghĩ đến vay tiền ông Mận.
    - Cậu khái quá! Cả làng này vay ông ta chứ cứ gì một ai!
    - Nhưng mà... tôi thì lại... khác. Nghe đến đấy, ông lý buồn rũ người ra
    như thấy tin nhân ngãi chết. Chẳng buồn hút thuốc, uống nước, ông để tay
    chống cằm. Hồi lâu ông thở dài:
    - Thế cậu định để chết cho tôi hay sao! Việc là việc hữu ích chung chứ
    phải tôi tư túi gì? Đấy, cậu xem, vụ thuế vừa rồi tôi đã sạt nghiệp vì cả làng
    đấy!
    Phú cười khanh khách:
    - Ông đừng lo! Tôi không để cái chết cho ông đâu.
    Ông lý trưởng lại càng lộ vẻ sốt ruột, cáu kỉnh. Ông nói như gắt:
    - Thế cậu định thế nào?
    Ông lý đứng phắt lên tỏ ý giận dỗi vì không tin, Phú cũng đứng lên lôi
    hai tay ông ta. Chàng không dám cười nữa, phải nghiêm nghị nói:
    - Thưa ông, tôi xin đi phu.
    Ông lý hắt tay Phú, nguây nguẩy:
    - Tôi không nói đùa! Việc quan không phải chuyện đùa!
    Phú làm ra bộ cáu kỉnh:
    - Thưa ông, tôi, tôi cũng không nói đùa!
    Đến đây, ông lý đứng lặng người ra, ngạc nhiên nhìn. Sau cùng ông cúi
    mặt, cậy mấy hạt dử mắt. Ông lầu nhầu:

    -Quái thật! Quái thật!
    Vừa lúc ấy, cụ Cử hầm hầm đi ra, xỉa xói mãi vào mặt Phú:
    -Đã biết chưa, hở con? Đã biết chưa? Nhục! Nhục! Bây giờ thì mới biết
    cái chân tư văn là cần nhé! Xưa kia nói thì cứ cang cảng gân cổ ra mà cãi
    mãi!
    Phú nhớ lại lúc mẹ lấy được một bát họ năm chục bạc để định mua cho
    chàng cái tư văn, chàng đã phải hết sức phản đối, hết sức công kích... Trong
    hai mẹ con đã xảy ra một trận bất hòa kịch liệt, chỉ vì thương yêu nhau
    nhưng mà không hiểu nhau. Phú muốn dùng tiền ấy lợp lại cái nhà mục nát,
    trát lại mấy bức vách đã long lở, may cho mẹ và cho chị vài cái quần áo, trả
    những món nợ vặt, mua cho thằng cháu bồ côi một cái vòng bạc... những
    việc tối cần.
    Sau những trận cãi nhau khá kịch liệt mà chỉ kết cấu bằng nước mắt,
    bằng sự hờn, giận, chàng đã phải hết sức cương quyết cho đến kỳ cùng mới
    chống lại được cái nạn tư văn. Cụ Cử đã phải tấm tức nghe theo để may
    quần cho mình, cho con gái, lợp lại nhà, trát lại vách
    - Những việc cụ cho là không cần lắm. Đến bây giờ... Nước lên...
    Phú định đi làm phu! Cụ Cử lại xỉa xói hai ba lần nữa vào mặt con:
    - Nhục! Giời ơi! Nhục ơi là nhục!...
    Phú không kịp nghĩ đến sự thất hiếu với mẹ nữa. Chàng gắt:
    - Ôhay! Đẻ làm gì thế? Đi phu thì đã làm sao?
    - Nhục! Sức vóc học trò! Rồi ốm! Rồi chết!
    Tuy mẹ nói thế nhưng ý nghĩ của con lại trái ngược hẳn. Phú cho việc
    mình đi hộ đê là một bổn phận phải gánh vác một cách sốt sắng. Dù là học

    trò, chàng cũng thấy mình đủ sức vóc làm những việc nặng nhọc. Chàng lại
    muốn dúng tay vào những việc chân lấm tay bùn của đồng bào dân quê để
    gánh vác đỡ một phần công lao tối tăm không biết đến của họ. Được gần
    với cái phần tử khốn khổ nhất của xã hội, Phú sẽ được dịp quan sát mọi
    điều, và mong sẽ nuôi được tấm lòng yêu nước; vì thế chàng đã mơ tưởng
    đến bao nhiêu cảnh lầm than nó kích thích mạnh vào tâm hồn chàng, nó làm
    cho chàng biết đến cái gì là cái há sinh. Thành thử Phú chỉ thấy việc đi làm
    phu là chứa chan thi vị. Chàng cứng cỏi nói bằng giọng một cái chiến thư:
    - Ýtôi đã quyết, đẻ đừng nói gì nữa. Tôi ngồi không ở nhà thì cũng
    chẳng ích gì. Cụ Cử ngồi xuống bậu cửa khóc. Ông lý trưởng ngán ngẩm
    đứng lên:
    - Thôi, cậu đi hay cậu vay tiền để thuê mượn thì tùy cậu đấy. Cứ biết là
    chốc nữa thì cậu đã phải có mặt tại điếm. Tôi còn sang làng bên giục nó
    thuê xe đánh tre đi. Xin cậu nhớ cho nếu có tiền thì là một đồng hai hào tiền
    người và tiền cây tre. Bằng không thì cậu chạy bộ một cây tre rồi đem ra
    điếm cho tôi. Thôi, xin phép cụ, chào cậu.
    Nói rồi ông lý ra hẳn, Phú quay lại hỏi vặn mẹ:
    -Đấy đẻ xem! Tôi không đi thì đẻ có chạy được một đồng hai hào cho
    tôi không? Đẻ lại khóc nữa thì vô lý quá.
    Cụ Cử vẫn sì sụt khóc. Phú lấy con dao rựa ra bụi tre, vén tay áo bổ vào
    một gốc. Cô Tuất cũng ẵm con ra sân:
    - Cậu nhất định đi phu thật đấy à?
    Phú ngừng tay quay lại phân trần:
    -Đấy chị xem! Dù có vay tiền được, tôi cũng không muốn đẻ lại mắc
    thêm một món nợ. Chứ đừng kể là chẳng ma nào cho mình vay tiền nữa.

    Mà đi phu thì đã mất danh giá gì? Việc quái gì? Mình là ông gì mà lại từ
    những việc bổn phận mình phải gánh vác? Chị cứ yên tâm.
    - Sức vóc cậu làm thế nào những việc của phu phen được?
    - Chị mặc kệ tôi.
    -Hay là...
    - Sao?
    - Nói với ông chánh Mận... Phú bất bình mà rằng:
    - Thôi đi! Người ta hỏi chị, chị chưa thuận, tôi là ai mà lại đến đấy vay
    tiền? Dù người ta đã lấy chị rồi thì tôi cũng không nên nhờ mới phải.
    Phú lại quay vào chặt gốc cây tre. Cô Tuất đứng tần ngần hồi lâu...
    Khiến em phải nghĩ đến việc ông Mận gạn hỏi. Ông Mận say mê cô Tuất ra
    mặt. Ông nói thế trước mặt cả làng. Phú vẫn sợ, lo rằng chị mình sẽ sa ngã,
    sẽ... phải lòng người ta chăng. Là vì ái tình nó hút ái tình như điện nam
    châm hút sắt. Đối với lòng yêu, cái gì lãnh đạm được? Cho nên Phú vẫn lo
    trước khi chị mình công nhiên nhận lời hoặc trước khi việc thành, Tuất sẽ
    nhẹ dạ, mà đi trò chuyện gì với người ta chăng. Nhưng không! Tuất là gái
    có một, trăm phần trăm. Trong hôn sự Tuất không thấy gì là ái tình. Bằng
    lòng thì sẽ lấy, không th...
     
    Gửi ý kiến

    Một quyển sách hay là đời sống xương máu quý giá của một tinh thần ướp hương và cất kín cho mai sau. (J.Milton

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC CẨM PHÚC - MAO ĐIỀN - TP HẢI PHÒNG !